|
|
Hỏi: Tại
Philippines, có một ḷng sùng mộ ngày càng gia tăng cho bảy Tổng lănh Thiên
thần với các h́nh ảnh và tên tương ứng cho bốn vị c̣n lại, ngoài các Tổng
lănh Thiên thần Michael (Mi-ca-e), Gabriel (Gáp-ri-en) và Raphael
(Ra-pha-en). Tài liệu Hướng dẫn về ḷng đạo đức b́nh dân và phụng vụ (2001)
của Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích, số 217, mục 2, nói rơ: "Việc thực hành
đặt tên cho các Thiên Thần không được khuyến khích, ngoại trừ trong trường
hợp của các Tổng lănh Thiên thần Gabriel, Raphael và Michael đă có tên trong
Thánh Kinh". Tuy nhiên, điều này dường như bị vi phạm rơ ràng khi trong
nhiều cửa hàng tranh tượng Công Giáo, các h́nh ảnh, sách kinh dành kính
riêng cho các vị Uriel, Barachiel, Sealtiel và Judiel đang được bán, và các
linh mục được xin làm phép các ảnh tượng ấy. Hơn nữa, có các nhà tĩnh tâm
Công Giáo, trung tâm tâm linh và các nghĩa trang Công Giáo được đặt tên theo
các vị thiên thần ấy, hoặc danh tánh và h́nh ảnh của các vị ấy là một phần
của nơi trong nhà thờ dành cho sự sùng mộ của tín hữu. Chúng con tự hỏi liệu
sự sùng mộ ấy với bảy Tổng lănh Thiên thần cùng với tên và h́nh ảnh của các
vị là hợp pháp về giáo lư không, và đă được phê duyệt ở cấp huấn quyền Giáo
Hội chính thức không, bởi v́ có nhiều linh mục cổ vũ việc này trong bài
giảng của các ngài và trong sự sùng mộ ở giáo xứ. - W. F. C., Manila,
Philippines.
Đáp: Bản
văn chính xác được bạn đọc trên nhắc tới là:
"Tuy nhiên, sự sùng mộ b́nh dân đối với các Thiên thần, vốn là hợp pháp và
tốt lành, có thể làm phát sinh các lệch lạc có thể có:
"khi, như đôi khi đă xảy ra, các tín hữu thuận theo ư tưởng rằng thế giới là
đối tượng cho các đấu tranh của bán thần, hoặc một cuộc chiến không ngừng
giữa thần tốt và thần dữ, hay Thiên thần và ác quỷ, mà trong đó con người ở
lại với ḷng thương xót của lực lượng mạnh hơn và bất lực với lực lượng ấy;
vũ trụ luận đó ít có tương quan với tầm nh́n đích thực của Tin Mừng về chiến
thắng Ma quỷ, vốn đ̣i hỏi sự cam kết đạo đức, một tùy chọn cơ bản cho Tin
Mừng, sự khiêm nhường và cầu nguyện;
"khi các sự kiện hàng ngày của cuộc sống, vốn không có hoặc ít có tương quan
với sự tiến bộ dần dà của chúng ta trên hành tŕnh tiến về Chúa Kitô, được
đọc cách sơ sài hoặc cách đơn giản, thậm chí như trẻ con, để gán mọi thất
bại cho Ma quỷ và mọi thành công cho các Thiên thần hộ thủ. Việc thực hành
đặt tên cho các Thiên Thần không được khuyến khích, ngoại trừ trong trường
hợp của các Tổng lănh Thiên thần Gabriel, Raphael và Michael đă có tên trong
Thánh Kinh”.
Truyền thống Công Giáo Rôma thường không đề cập đến tên của bảy Tổng lănh
Thiên thần hay thậm chí nhấn mạnh nhiều đến con số bảy này. Đúng là Tobia
12,15 đề cập đến bảy thiên sứ luôn hầu cận và vào chầu trước nhan vinh hiển
của Đức Chúa, và Khải Huyền 8,2 đề cập đến bảy thiên thần đứng chầu trước
nhan Thiên Chúa, nhưng các văn bản này đă không ảnh hưởng đến đạo Công Giáo
Latinh nhiều. Mặt khác, đă có sự sùng mộ liên tục và tuyệt vời đối với ba
Tổng lănh Thiên thần được nêu tên trong Thánh Kinh, đó là Michael, Gabriel
và Raphael, cũng như các thiên thần hộ thủ.
Tuy nhiên, một số nhánh của Chính thống giáo Đông phương sùng mộ bảy Tổng
lănh Thiên thần, mặc dù nhiều chỉ nhánh chỉ nêu thêm tên Uriel như một Tổng
lănh Thiên thần có tên. Truyền thống Anh giáo cũng có lời nguyện với Uriel
như một Tổng lănh Thiên thần thứ tư.
Các nguồn của các tên khác là tác phẩm Do Thái ngụy thư, vốn không tạo nên
một phần của Kinh Thánh. Các tên này được t́m thấy trong Sách 1 Enoch và một
danh sách khác trong cái gọi là Sách 2 (hoặc Sách 4) Esdras. Các danh sách
này không luôn đồng ư với nhau, mặc dù tên Uriel là tương đối ổn định. Các
tên khác gồm có Raguel, Sariel, Jeremiel, Jehudiel, Barachiel, Gabuthelon,
Beburos, Zebuleon, Aker và Arphugitonos. Một số các tên này có thể là biến
thái trong cách đọc cùng một tên, nhưng các tên khác là như nhau cho một số
sách. Các sách trên và các sách tương tự được viết bởi nhà văn Do Thái trong
giai đoạn giữa Cựu Ước và Tân Ước, hoặc thậm chí sau nhiều phần của Tân Ước
đă được viết, sau cuộc tàn phá thành Giêrusalem vào năm 70.
Các tên tương tự được đề cập bởi Pseudo-Dionysius (cuối thế kỷ thứ năm đến
đầu thế kỷ thứ sáu) và Thánh Giáo Hoàng Grêgôriô I (540-604).
Đối với việc đặt tên các thiên thần, Giáo Hội Latinh đă luôn cảnh giác phần
nào. Trong một nghị hội hoặc công đồng tổ chức tại Rôma năm 745, Thánh Giáo
Hoàng Zachary đă t́m cách kiềm chế một xu hướng tôn sùng các Thiên thần, và
cấm sử dụng các tên không được t́m thấy trong Kinh Thánh.
Một bản văn miêu tả nghị hội (hoặc công đồng) này được ghi lại trong Tập XII
của bộ "Annali Ecclesiastici" của Đức Hồng Y Cesare Baronio (xuất bản năm
1607). Bản văn đáng chú ư và có phần khắc nghiệt này của nghị hội xử lư các
lời dạy lạc giáo của một linh mục sống ở Đức, tên là Adalbert. Một lời kinh
do linh mục này sáng tác có câu như sau:
"Con cầu nguyện và van xin các Ngài, và khẩn cầu các Ngài, là thiên thần
Uriel, thiên thần Raguel, thiên thần Tubuel, thiên thần Michael, thiên thần
Adimis, thiên thần Tubuas, thiên thần Sabaoth, thiên thần Simuel".
Bản văn của Baronio nói: "Và khi nghe đọc xong lời kinh phạm thượng này,
Thánh Giáo hoàng Zachary nói: “Làm thế nào, anh em thân mến, anh em trả lời
với kinh này?”. Các Giám mục thánh và linh mục đáng kính trả lời: “Điều ǵ
khác có thể làm thêm, nhưng tất cả những điều đă được đọc trước sự hiện diện
của chúng con, cần được đốt cháy trong ngọn lửa; và tác giả của chúng cần bị
vạ tuyệt thông. Bởi v́ tám tên của thiên thần, mà Adalbert đă nêu ra trong
lời kinh của ḿnh, không phải là, ngoại trừ Michael, tên của các Thiên thần,
nhưng là tên của ma quỷ, mà Adalbert đă cầu xin để giúp đỡ cho ḿnh. Nhưng
chúng ta (như được dạy bởi quyền Tông đồ của Giáo hoàng), và như quyền Chúa
đă thông truyền, chỉ thừa nhận không hơn ba tên thiên thần mà thôi, đó là
Michael, Gabriel, và Raphael. Các Giáo phụ đă nói như thế. Bởi quyền Chúa,
anh em đă nhận biết rằng cuốn sách được gọi là Sách 4 Esdras, trong đó
thường nhắc đến thiên thần Uriel, bị loại trừ và bị cấm bởi Giáo Hội Rôma".
Trong bản văn này, học thuyết cơ bản là rơ ràng về việc giới hạn cho ba tên
Thiên thần trong Kinh Thánh mà thôi. Ngôn từ mạnh mẽ về bản chất ma quỷ khả
dĩ của các tên khác nên được nh́n trong bối cảnh sự kết án cụ thể đối với
thuyết của Adalbert, chứ không phải như một tuyên bố tuyệt đối. Điều chưa rơ
là không biết tài liệu được viết khi nào, và rất có thể nó được viết ra
nhiều năm sau khi nghị hội diễn ra. Bốn mươi bốn năm sau, năm 789, tại Công
đồng Aix-la-Chapelle, các nghị phụ cũng lên án việc đặt tên cho các Thiên
thần.
Có rất ít giáo huấn chính thức liên quan đến điểm này. Năm 1992, một sắc
lệnh của Thánh Bộ Giáo lư Đức tin đă cấm bàn thảo hoặc sử dụng tên của các
Thiên thần, nhưng sắc lệnh này chủ yếu liên quan với việc được cho là mặc
khải tư cho một người, chứ không liên quan trực tiếp đến trường hợp của
chúng ta. Tuy nhiên, nó có thể góp phần vào việc Tài liệu Hướng dẫn về ḷng
đạo đức b́nh dân và phụng vụ không đồng ư việc đặt tên cho các Thiên thần
nói chung.
Mặt khác, mặc dù có sự miễn cưỡng tổng thể về phía Giáo Hội, thỉnh thoảng có
bức tranh với h́nh ảnh của bảy Thiên thần, như một bức bích họa ở nhà thờ
Đức Bà của các Thiên thần tại Rôma vẽ Đức Mẹ đứng giữa bảy Thiên thần. Sự
cho phép cũng đă được ban năm 1720 để cung hiến một nhà thờ ở Đức, mà trong
đó mỗi vị trong bảy Thiên thần có một bàn thờ riêng.
Về giáo lư, không có ǵ nhiều được đọc trong các sự chấp thuận như vậy. Theo
các nguyên tắc được chấp nhận chung về giải thích thần học, sự chấp thuận
của Giáo Hội cho một phụng vụ hay một lễ, dựa vào truyền thống ngoài Kinh
Thánh hay giai thoại, không thể được sử dụng như bằng chứng cho tính xác
thực lịch sử của chúng. Giáo Hội chỉ thừa nhận một truyền thống tôn giáo đặc
biệt, vốn có thể có một số lợi ích thiêng liêng cho các tín hữu.
Trong ư nghĩa này, việc sử dụng tên từ các nguồn ngụy thư không bị cấm tự
chính nó. Chẳng hạn Giáo Hội đă lấy tên của ba vị đạo sĩ, tên của cha mẹ Đức
Maria, và lễ Đức Bà dâng ḿnh vào đền thánh từ các nguồn ngụy thư. Sự thực
hành này không có nghĩa rằng Giáo Hội ban sự khả tín lịch sử cho các sách
ấy, nhưng chỉ khẳng định rằng chúng phản ánh một truyền thống lâu đời.
V́ vậy, thí dụ, vô số h́nh ảnh và các nhà thờ được cung hiến cho việc Đức
Maria dâng ḿnh vào đền thờ không chứng thực sự thật lịch sử của truyền
thuyết đạo đức, liên quan đến việc Đức Mẹ thực sự sống nhiều năm ở đền thờ,
hoặc có một nhóm trinh nữ sống trong đền thờ Giêrusalem. Ngày lễ khẳng định
sự thật cơ bản của việc Đức Maria tận hiến cho Chúa ngay từ thuở đầu đời
sống của Ngài, vốn được phản ánh trong các Tin Mừng ngụy thư được viết nhiều
thế kỷ sau thời của Chúa Kitô.
Tương tự như vậy, sự việc rằng trong một số dịp hiếm hoi, các bức tranh và
một nhà thờ đă được cung hiến cho bảy Tổng lănh Thiên thần, là không ǵ khác
hơn công nhận một sự sùng mộ và truyền thống địa phương. Việc thực hành
thiêng liêng áp đảo của Giáo Hội Latinh cho thấy sự sùng mộ lớn lao đối với
ba Tổng lănh Thiên thần, trong khi bỏ qua bốn thiên thần khác được đề cập
trong sách Tôbia và Khải Huyền. Không có điều ǵ chắc chắn được nói về các
đặc điểm, biểu tượng, hoặc sự bảo trợ đặc biệt của các Tổng lănh Thiên thần
khác được nêu tên.
V́ vậy, tôi sẽ nói rằng, bởi v́ Giáo Hội đă chính thức làm nản ḷng việc cổ
vũ một linh đạo dựa vào việc đặt tên các thiên thần khác ngoài ba Tổng lănh
Thiên thần đă có tên và thiên thần hộ thủ, mọi người Công Giáo Latinh nên
kiềm chế không làm như vậy, ngay cả khi không bị cấm, nếu nói chặt chẽ như
thế. Rơ ràng là Giáo Hội Latinh không tin rằng nhiều lợi ích thiêng liêng có
thể đạt được từ việc đi theo con đường này, và cho rằng nó không miễn một số
nguy hiểm nào đó.
Việc thiết lập một biểu tượng cho sự tôn kính chung hoặc việc cung hiến một
nhà thờ hoặc nhà nguyện cho một thiên thần khác với các Tổng lănh Thiên thần
Michael, Gabriel và Raphael hoặc thiên thần hộ thủ như một tập thể, đ̣i hỏi
sự cho phép đặc biệt, và một Giám mục không nên cho phép một cung hiến như
vậy, hoặc làm phép cho một nhân vật không được công nhận phổ quát là là một
thiên thần hay vị thánh trong lịch phụng vụ phổ quát hiện tại.
Điều này áp dụng cho toàn bộ Kitô giáo La tinh. C̣n các tập tục của Chính
thống giáo và Anh giáo là hợp pháp trong bối cảnh của các truyền thống
thiêng liêng của họ mà thôi.
(Nguyễn Trọng Đa, Zenit.org 1-9-2015)